Bệnh tôm bông do vi bào tử trùng Microsporidium gây bệnh ở tôm nuôi và nhiều loài giáp xác hoang dã. Bệnh gây tỷ lệ tôm rớt cao và gây thiệt hại lớn trong ngành nuôi tôm. Mức thiệt hại có thể tới 70%. Vi bào tử trùng sau khi lây nhiễm vào cơ thể tôm di chuyển và xâm nhập vào tế bào cơ. Vi bào tử ký sinh và sinh sản bên trong tế bào cơ.
Các bào tử trưởng thành lây nhiễm sang các tế bào khỏe mạnh, hủy hoại dần mô cơ và tạo thành các mảng trắng đục. Ở giai đoạn tôm bị bệnh nặng, vi bào tử trùng lây nhiễm sang các mô cơ quan khác rải rác khắp cơ thể. Bộ vi bào tử trùng có ít nhất 5 chi gây bệnh trên tôm.
Ngoài gây bệnh ở cơ còn gây bệnh ở nhiều cơ quan khác. Hiện nay chưa có biện pháp hiệu quả để điều trị ở tôm bị nhiễm bệnh. Vi bào tử có thành dày và rất bền vững trước các chất sát trùng thông thường. Phương pháp phòng ngừa tốt nhất là kiểm soát chặt chẽ an toàn sinh học trong trại giống và ao nuôi.
Tác nhân gây bệnh
Tên bệnh thường gọi
Bệnh tôm bông, Bệnh tôm sữa, Bệnh đục cơ, Bệnh hoại tử cơ
Tên khoa học của tác nhân gây bệnh
Agmasoma (=Thelohania) spp., Amesoma (=Nosema) spp., Pleistophora (=Plistophora) spp., và Perezia spp.
Tác nhân gây bệnh chính
Các tác nhân gây bệnh liên quan đến bệnh này là vi bào tử trùng (microsporidia) được tìm thấy ở ít nhất 5 chi bao gồm Pleistophora, Thelohania, Perezia, Agmasoma và Ameson. Những ký sinh trùng microsporidian này chủ yếu lây nhiễm vào cơ xương của tôm và giáp xác, khiến các vùng cơ thể bị ảnh hưởng có màu trắng hoặc mờ đục, đây là tên chung của bệnh này. Tôm bị nhiễm bệnh nhẹ có thể trông và hoạt động bình thường, nhưng nhiễm trùng nặng khiến tôm không thể bán được hoặc không ăn được.
Bảng 1: Các tác nhân vi bào tử trùng gây bệnh ở tôm nuôi
| Loại vi bào tử trùng | Các loài tôm bị ảnh hưởng | Mô ảnh hưởng | Kích thước bào tử µm | Nguồn trích dẫn |
| Perezia sp. | P. stylirostris, P. vannamei and P. monodon | Cơ, tim, lá mang và cơ quan lym-phô | 2.01×1.1 | [Han et al., 2016] [Sokolova & Hawke, 2016] |
| Agmasona penaei | P. vannamei, P. merguiensis, P. monodon, P. semisulcatus, and P. setiferus | Cơ bụng, tuyến sinh dục, hệ thống thần kinh, tim, đường ruột và gan tụy | 3.6×2.1 | [Sokolova et al., 2015] |
| Ameson (Nosema) nelsoni | P. vannamei, P. aztecus, P. duorarum, P. esculentus, P. latisculcatus, P. merguiensis, P. semisulcatus and P. setiferus | Cơ vân, tế bào máu và gan tụy | 1.2×2.0 | [Cuéllar et al., 2014] |
| Enterocytozoon hepatopenaei | P. vannamei and P. monodon | Biểu mô gan tụy | 0.7×1.1 | [Tourtip et al., 2009] |
Các tác khác gây bệnh có triệu chứng tương tự
Ở vùng nuôi có độ mặn tương đối cao (25 – 35‰), tôm chuyển sang trắng đục ở một số bộ phận trên cơ thể, nhưng nguyên nhân không phải do stress mà thường do vi bào tử trùng (Microsporidian). Ngoài ra, tôm nhiễm virus gây hoại tử cơ (IMNV – infectious myonecrosis virus), hay bệnh hoại tử cơ trên tôm thẻ chân trắng do nodavirus (PvNV – Penaeus vannamei nodavirus).
Hai loại virus IMNV và PvNV có nhiều đặc điểm giống với nodavirus gây bệnh trắng đuôi (WTD – white tail disease) trên tôm càng xanh (MrNV – Macrobrachium rosenbergii nodavirus). Cả hai loại virus này đầu tiên đều tấn công vào phần cơ tôm và có biểu hiện lâm sàng giống nhau là làm trắng hoặc đục ở đốt cơ đuôi trên họ tôm he. Các điểm hoại tử nhỏ bắt đầu ở phần đuôi rồi sau đó lan dần ra toàn thân. Tỷ lệ chết tích lũy khá cao, khoảng 40 – 70%.
Các loài vật chủ thường gặp
Nhiều loài tôm hoang dã và tôm nuôi cũng như hầu hết các loài giáp xác biển khác như tôm hùm và cua. Microsporida cũng xuất hiện ở các loài giáp xác nước ngọt như tôm càng.
Ở tôm và các loài giáp xác khác, Perezia spp. phá hủy cơ bắp và dần dần thay thế cơ bắp bằng hàng loạt giai đoạn phát triển của ký sinh trùng và bào tử. Ở giai đoạn cuối của quá trình nhiễm bệnh, ký sinh trùng có thể xâm nhập các mô và cơ quan khác –trong cùng một con tôm. Bào tử lây nhiễm vào sợi cơ, mô liên kết của sợi râu, biểu mô của ống gan tụy, biểu mô sợi mang, sợi cơ tim, tế bào nhu mô cơ quan bạch huyết.
Các bào tử lây lan khắp cơ thể ở giai đoạn nhiễm trùng tiến triển có thể bắt nguồn từ nhiễm trùng cơ: cơ dần dần bị thoái hóa và các bào tử bị nhiễm các mô xung quanh. Ngoài ra, hầu hết các trường hợp (90%) CSD đều đi kèm với nhiễm bệnh đóng mang do Zoothamnium sp. hoặc Epistylis sp., chỉ ra rằng động vật mắc bệnh microsporidiosis có thể lực yếu và dễ bị nhiễm trùng hoặc nhiễm trùng thứ cấp.
Kỹ thuật chẩn đoán
Quan sát chung
Nhiễm trùng nặng microsporida ở các mô cơ làm cho cơ trở nên mờ đục và tôm có vẻ như bị nấu chín mặc dù chúng vẫn còn sống. Vị trí bị mờ đục thường gặp ở các đốt bụng sau lan dần lên các đốt phía trước, thậm chí lan cả các đốt ngực.
Tôm bị bệnh thường liên tục bơi lội ở tầng nước giữa giống như tôm đói ăn nhưng thể lực yếu, óp thân, khó bắt mồi nên rất dễ với tôm bằng vợt. Những cá thể bị bệnh nặng sau khi nhúng qua nước đá đang tan hoặc sau khi nhúng nhanh qua nước sôi thì có thể quan sát ở những vị trí cơ bị đục lớp cơ bủn, dễ bị rách, không chắc đặc như những phần cơ không bị bệnh và có dấu hiệu hoại tử một phần.
Tôm nhiễm bệnh sau khi thả 15-20 ngày có dấu hiệu xuất hiện những vết trắng mờ đục ở nhiều phần trên cơ thể. Khi tôm lớn các vết mờ đục càng dễ quan sát hơn và tập trung ở phần lưng từ sau khối gan tụy đến phần giữa lưng. Ở tôm bị bệnh nặng thì các mô bị vi bào tử phá hủy lan sang mô dạ dầy, cơ tim, mang …
Kỹ thuật chẩn đoán bằng phương pháp nhuộm mô tế bào
Các bào tử microsporidian trong cơ (cũng có thể nhìn thấy nếu nhuộm Giemsa). Việc xác định chi và loài dựa trên kích thước, hình dạng và số lượng bào tử trên mỗi bào tử.

Hình 2: Hình ảnh nhuộm mô tế bào của tôm nhiễm vi bào tử trùng microsporodium Perezia sp., nguồn: Han et al., 2019
Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy nhiều khối lớn màu trắng chứa các túi bào tử. Mỗi túi bào tử (Sporophorous vesicles) chứa 8 vi bào tử Thelohania hoặc Agmasoma. Mô tả này phù hợp với công bố trước đây về phát hiện các cấu trúc vi bào tử ký sinh ở tôm sú bởi Limsuwan (1991) và Flegel (1992).

Hình 3: Kính hiển vi ánh sáng của Agmasoma penaei cho thấy bào tử và các giai đoạn trên tiêu bản. (A) Vết bẩn tươi từ các mô bị nhiễm bệnh dưới quang học trường tối. Bát bào tử (mũi tên đen), bào tử tự do được giải phóng khỏi túi bào tử (SV) (mũi tên trắng) và túi bào tử tròn (đầu mũi tên đen). (B) Hai SV ở độ phóng đại cao hơn, mỗi SV chứa tám bào tử pyriform. Chỗ lõm tròn bên trong bào tử (mũi tên trắng) tương ứng với không bào phía sau. (C) RAT và đại bào tử (dấu hoa thị) trên phết phết nhuộm ba màu và cố định bằng metanol; thành phần chitin của thành bào tử được nhuộm màu đỏ, chất nền bên trong SV được nhuộm màu xanh lam. Nguồn: Yuliya Sokolova et al., 2014
Kỹ thuật chẩn đoán bằng PCR hoặc lai phân tử
Mỗi một loài vi bào tử trùng có trình tự gene bảo thủ có tính đặc trưng loài để phân biệt với các loài vi bào tử trùng khác. Trình tự này là cơ sở xác định xem một loài vi bào tử trùng được lấy mẫu có phải là một loài mới hay là một loài đã được phát hiện. Trình tự gene bảo thủ mã hóa ở vi bào tử trùng là một đoạn trong gene mã hóa trình tự rRNA ở phần nhỏ của bào quan ribosome.
Trình tự SSU rDNA này cũng giúp ích trong kỹ thuật chẩn đoán vì từ trình tự này các nhà khoa học có thể thiết kế các trình tự xuôi ngược còn được gọi là cặp mồi để khuếch đại đoạn DNA trong kỹ thuật chẩn đoán PCR hoặc tạo ra những trình tự đặc trưng để tiến hành phản ứng trong kỹ thuật lai phân tử DNA. Ví dụ ở loài vi bào tử trùng Agmasoma sp. dùng các cặp mồi đặc hiệu để khuếch đại đoạn trình tự gen có tính bảo thủ cao SSU rDNA 772bp [Pasharawipas et al .1994]
Bảng 2: Trình tự gene SSU rDNA đặc trưng cho mỗi loài vi bào tử gây bệnh ở họ tôm thẻ được lưu trữ trong ngân hàng gene [Yuliya Sokolova et al., 2016]
Loài vi bào tử gây bệnh
Vật chủ
Cơ quan đích
Mã số trình tự gene đặc trưng trong GenBank
Agmasoma penaei LA isolate
Họ tôm thẻ
Tuyến sinh dục
KF549987
Perezia nelsoni LA
Họ tôm thẻ
Cơ
KX856426
Perezia sp.06-324
Họ tôm thẻ
Cơ, gan tụy
KP825331
Pleistophora sp. LSĐược xác định là loài Perezia nelsoni [Canning et al., 2002]
Họ tôm thẻ
Cơ
AJ252959
Pleistophora sp. PAĐược xác định là loài Tuzetia weidneri by [Canning et al., 2002]
Họ tôm thẻ
Cơ
AJ252958
Phương pháp kiểm soát và phòng ngừa
Không có phương pháp phòng ngừa hoặc kiểm soát được biết đến. Việc phòng ngừa vẫn giới hạn ở mức chủ yếu tập trung vào đảm bảo an toàn sinh học cho tôm giống, trong ao nuôi và việc xử lý nước cấp trong quá trình nuôi. Bệnh lan tràn trong ngành nuôi tôm theo những con đường cơ bản sau.
Chiều dọc: Khi tôm bố mẹ mang mầm bệnh sẽ truyền cho phôi, cho nên ngay từ đầu con tôm đã mang sẵn mầm bệnh trong cơ thể. Chờ đến khi tôm yếu, ký sinh trùng sẽ lập tức gây ra những triệu chứng đặc trưng.
Chiều ngang: Vì mầm bệnh là ký sinh trùng nên cần có ký chủ để bám vào và hút chất dinh dưỡng thì mới tồn tại được. Do đó, có rất nhiều loài trung gian có thể mang mầm bệnh, lây nhiễm cho tôm. Ngoài ra trong phân tôm cũng có nhiều bào tử có đủ khả năng gây bệnh cùng với hình thức con bệnh truyền bào tử trực tiếp cho con khỏe.
Những loại hóa chất có tác dụng với các loại ký sinh trùng khác thì không diệt được vi bào tử trùng này. Do đó hiện tại chỉ có thể đối phó với bệnh EHP bằng cách kiểm soát an toàn sinh học chặt chẽ và chú ý cải thiện sức khỏe vật nuôi.
Tài liệu tham khảo
R. Overstreet et al., 2017, http://dx.doi.org/10.1007/978-1-4939-3456-0_6
Jee Eun Han et al., 2019, https://doi.org/10.3354/dao03022
Yuliya Sokolova et al., 2016, http://dx.doi.org/10.1016/j.ijpara.2014.07.013
E. Canning et al., https://digitalcommons.unl.edu/parasitologyfacpubs
Limsuwan, C. 1991. Handbook for Cultivation of Black Tiger Prawns. Tansetakit Co., Ltd.
Flegel, T.W., et al., 1992a. High mortality of black tiger prawns from cotton shrimp disease in Thailand. In: Diseases in Asian Aquaculture I. M. Shariff, R.P. Subasinghe and J.R. Arthur (eds.), pp. 181-197.
Pasharawipas, T., Flegel, T.W., Chaiyaroj, S., Mongkolsuk, S., Sirisinha, S., 1994. Comparison of amplified RNA gene sequences from microsporidian isolates (Agmasoma or Thelohania) in Penaeus merguensis and P. monodon. Asian Fish Sci. 7, 169–178.